Bệnh giang mai ở nam giới: Biểu hiện như thế nào ? Nguyên nhân gây ra bệnh ?

Nhập từ khóa tìm kiếm

Bệnh giang mai ở nam giới:  Biểu hiện như thế nào ? Nguyên nhân gây ra bệnh ?

Bệnh giang mai ở nam giới: Biểu hiện như thế nào ? Nguyên nhân gây ra bệnh ?

Đánh giá bài viết

Quan hệ không dùng các biện pháp tránh thai an toàn sẽ lây lan các bệnh nhiễm khuẩn sinh dục. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục rất nhiều như lậu, giang mai, nhiễm nấm cơ quan sinh dục. Bài viết này trung tâm sức khỏe sinh sản sẽ giới thiệu về bệnh giang mai ở nam giới để mọi người có thể hiểu rõ hơn về căn bệnh này.

Khái niệm bệnh giang mai là gì ?

Giang mai là một bệnh lây truyền qua đưòng tình dục do xoắn khuẩn giang mai gây nên. Bệnh lây truyền chủ yếu qua đưòng tình dục, đặc biệt là ở thời kỳ đầu khi có những tổn thương ở bộ phận sinh dục biểu hiện bằng những vết trợt mà thường gọi là sảng giang mai.

Nguyên nhân gây bệnh ?

Vi khuẩn gây bệnh có hình lò xo xoắn (nên được gọi là xoắn khuẩn) có màu nhạt, phát hiện trên kính hiển vi huỳnh quang có màu đen (Treponema pallidum – xoắn khuẩn giang mai) do Schaudinn và Hoffmann phát hiện năm 1905. Đây là một loại xoắn khuẩn hình lò xo có 6-10 vòng xoắn, đường kính ngang không quá 0,5 micro, dài 6-15 micro. Xoắn khuẩn có 3 loại di động: di động theo trục dọc kiểu vặn đinh ốc, di động qua lại như một quả lắc đồng hồ và
di động lượn sóng. Cả 3 loại di động này có thể tồn tại và kéo dài đến 2 ngày ở môi trường ẩm ướt.

Đường lây truyền bệnh giang mai ?

có 3 đưòng lây truyền chính là lây truyền qua đường tình dục; lây truyền qua đường máu (tiêm truyền máu hoặc tiêm chích ma túy mà bơm kim tiêm không vô khuẩn) và lây truyền từ mẹ sang con (qua rau thai từ tháng thứ 4 trở đi).

Biểu hiện của bệnh giang mai ở nam giới để có thể nhận biết được ?

Bệnh phát triển theo 4 giai đoạn: giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn ủ bệnh, giai đoạn 3

Giai đoạn 1 – Xuất hiện săng giang mai

Khi tiếp xúc nguồn bệnh (sinh hoạt tình dục), khoảng 3-90 ngày (trung bình 21 ngày), sẽ xuất hiện tổn thương da ở các điểm tiếp xúc. Vết loét xuất hiện ở những nơi tiếp xúc với xoắn khuẩn giang mai, thường là ở bộ phận sinh
dục như quy đầu, rãnh quy đầu, lỗ sáo, bìu, xung quanh lỗ hậu môn, bên trong lỗ hậu môn, bao quy đầu, bên trong khoang miệng, lưỡi, xung quanh môi.

Tổn thương là một dạng loét, nông, hình tròn hay bầu dục kích thước 0,3 đến 3 cm, bờ nhẵn, màu đỏ, không ngứa, không đau, không có mủ nhưng có nhiều dịch.

Những tổn thương này có rất nhiều vi khuẩn là giai đoạn cực kỳ nguy hiểm vì mức độ lây nhiễm cao nhất. Đây vết loét thâm nhiễm cứng, kèm theo nổi hạch hai bên vùng bẹn, cứng nhưng cũng không đau.

Điều nguy hiểm là những tổn thương này không đau, không gây khó chịu làm cho bệnh nhân không chú ý hoặc là cho rằng những tổn thương đó là những vết xước do vệ sinh hoặc do sinh hoạt tình dục thô bạo nên dễ bỏ qua. Các triệu chứng trên có thể tự mất đi sau 3 đến 6 tuần lễ kể cả không điều trị nên nhiều người tưởng lầm là khỏi bệnh nhưng thực sự là vi khuẩn lúc đó đã vào máu, bệnh vẫn tiếp tục phát triển vối những biểu hiện khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giai đoạn 2 – Nổi phát ban

Xảy ra từ 4 đến 10 tuần sau giai đoạn 1. Giai đoạn này có rất nhiều biểu hiện khác nhau, ví dụ như nốt ban đối xứng, màu hồng như hoa đào (đào ban) không ngứa trên toàn thân hoặc tứ chi bao gồm cả lòng bàn tay, bàn chân, hình ảnh đào ban màu đỏ hồng hoặc hồng tím như cánh hoa đào, ấn vào thì mất, không nổi cao trên mặt da, không bong vảy và tự mất đi. Thường khu trú hai bên mạng sườn, ngực, bụng, chi trên. Đào ban xuất hiện dần trong vòng 1 đến 2 tuần, tồn tại không thay đổi trong vòng 1-3 tuần, sau đó nhạt màu dần rồi mất đi. Một số trường hợp có thể có các mảng sẩn, nốt phỏng nước, vết loét ở da và niêm mạc có kích thước khác nhau: bằng hạt đỗ, đinh gim, hoặc sẩn hình liken, ranh giới rõ ràng màu đỏ như quả dâu, không liên kết với nhau, thường hay bong vảy và có viền da ở xung quanh sẩn, nếu các sẩn có liên kết với nhau sẽ tạo thành các mảng, hay sẩn mảng, khi bị trợt ra, chảy nước, trong nước này có chứa rất nhiều xoắn khuẩn nên rất dễ lây khi tiếp xúc với những bệnh nhân này.

Các triệu chứng khác thường gặp ở giai đoạn này bao gồm sốt, đau họng, mệt mỏi, sụt cân, đau đầu, nổi hạch. Một số trường hợp hiếm gặp có thể kèm theo viêm gan, thận, viêm khớp, viêm màng xương, viêm dây thần kinh thị giác, viêm màng bồ đào, và viêm giác mạc kẽ. Các triệu chứng này thường tự biến mất sau 3-6 tuần.

Giai đoạn ủ bệnh – Giai đoạn tiềm ẩn

Giang mai tiềm ẩn được xác định khi huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh.

Giai đoạn này chia làm 2 loại: thời gian tiềm ẩn dưới 1 năm sau giai đoạn 2 (sớm) và thời gian tiềm ẩn kéo dài hơn 1 năm sau giai đoạn 2 (muộn). Giang mai tiềm ẩn sớm có thể tái phát các triệu chứng bệnh, giang mai tiềm ẩn muộn không có triệu chứng và không lây bằng giang mai tiềm ẩn sớm.

Giai đoạn 3: 

Giang mai giai đoạn 3 có thể xảy ra khoảng 3-15 năm sau những triệu chứng của giai đoạn 1 và được chia thành ba hình thức khác nhau: giang mai thần kinh (6,5%), giang mai tim mạch (10%) và củ giang mai (15%). Những người bị bệnh giang mai giai đoạn này không lây bệnh.

 

 

 

 

 

– Củ giang mai xuất hiện từ 1-46 năm sau khi nhiễm bệnh (trung bình là 15 năm), có hình cầu hoặc mặt phẳng không đối xứng, màu đỏ như mận, hơi ngả tím, kích thước bằng hạt ngô, mật độ chắc, ranh giới rõ ràng, các củ giang mai tiến triển không lành tính, nhất thiết hoại tử hoặc hoại tử teo hoặc tạo loét, rất chậm lành và ít lây hơn, sau khi khỏi thuờng để lại sẹo. Nếu củ, gôm khu trú vào các tổ chức quan trọng và không được điều trị sẽ đe dọa tính mạng bệnh nhân.

– Giang mai thần kinh là bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh trung ương. Nó có thể xảy ra sớm, không có triệu chứng hoặc biểuu hiện lâm sàng bằng viêm màng não, hay sự phân ly giữa biến đổi dịch não tủy đã rõ rệt nhưng gần như không có triệu chứng lâm sàng. Nếu xảy ra muộn sẽ gây ra viêm màng não, mạch máu não, tổn thương não khu trú hoặc thoái hóa ở não. Giang mai thần kinh thường xảy ra 4-25 năm sau khi nhiễm bệnh. Bệnh có thể gây suy nhược trầm cảm, rối loạn ý thức từng thời kỳ, động kinh, đột quỵ hay gây ra ảo giác đối với người bệnh.

– Giang mai tim mạch thường xảy ra 10-30 năm sau khi nhiễm bệnh. Các biến chứng thường gặp nhất là phình mạch.

Các biến chứng mà bệnh giang mai lây ra là gì ?

Rối loạn cảm giác: Người bệnh đau nhức, đau nhói như bị dao cắt, như bị giật mạnh hay như bị đốt ở chân, cũng có thể đâu tổng thế từ trên xuống, ở giai đoạn cuối người bệnh đi lại khó khăn

Rối loạn chức năng co thắt: Tổn thương đốt thứ 2 -4 ở lưng, ảnh hưởng cảm giác ở bang quang, buồn tiểu mà không có nước tiểu, dẫn đến bí tiểu và tiểu không kiểm soát.

Biểu hiện ở mắt, khớp, nội tạng:

– Biểu hiện ở mắt: Dị thường ở đồng tử mắt, đồng tử nhỏ hẹp, không bình thường, mất phản xạ ánh sáng, nhưng vẫn tồn tại phản xạ điều tiết. Đại đa phần cơ mắt tê bì, mí mắt không đồng, thần kinh thị giác bị tổn hại.

– Bệnh khớp:  Viêm khớp xương, các khớp không ngừng bị tổn hại dẫn đến cấu trúc xương bị tổn hại, gây thoát vị và gẫy xương.

– Nguy hiểm ở nội tạng: Đau bụng trên, lồng ngực co thắt, kèm theo nôn ói, kiệt sức và đau da bụng, ỉa chảy. Cổ họng và thanh quản xuất hiện triệu chứng khó nuốt và hô hấp khó khăn; trực tràng mót buốt; khó khăn trong việc bài tiết nước tiểu.

Phòng chống bệnh giang mai ?

Xây dựng lối sống lành mạnh, chung thủy một vợ, một chồng.

Thực hiện hành vi tình dục an toàn, có biện pháp bảo vệ (sử dụng bao cao su)

Để phòng bệnh giang mai bẩm sinh cần phải phát hiện kịp thời và điều trị cho người mẹ nếu bị bệnh trong khi mang thai. Cần làm các phản ứng huyết thanh một cách có hệ thống cho tất cả các chị em phụ nữ có thai.

Khi phát hiện bị bệnh cần đến các cơ sở y tế khám và điều trị ngay, không được tự ý mua thuốc điều trị.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

082 2065566